Đề tài: Quản lý về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, HAY

  1. BỘ GIÁO DỤC

    VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
    HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
    NGUYỄN THỊ THÚY HIỀN
    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA
    CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
    TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
    LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
    ĐẮK LẮK – NĂM 2017

  2. BỘ GIÁO DỤC

    VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
    HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
    NGUYỄN THỊ THÚY HIỀN
    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA
    CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
    TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
    LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
    CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
    MÃ SỐ: 60 34 04 03
    NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
    PGS.TS. ĐINH THỊ MINH TUYẾT
    ĐẮK LẮK – NĂM 2017

  3. -ii-
    LỜI CAM ĐOAN
    Học

    viên xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành
    Quản lý công với đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là công trình do học viên tự nghiên cứu.
    Các thông tin, số liệu được sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, việc trích dẫn được
    thực hiện đúng theo quy định.
    Học Viên
    Nguyễn Thị Thúy Hiền

  4. -iii-
    LỜI CẢM ƠN
    Sau

    một quá trình nghiên cứu, học viên đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
    Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công với đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”. Đây là thành quả của 02 năm
    học tập tại Phân viện khu vực Tây Nguyên – Học viện Hành chính Quốc gia.
    Học viên xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo, quý lãnh đạo Học viện đã
    giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để học viên hoàn thành luận văn tốt
    nghiệp đúng thời gian, tiến độ và chất lượng. Đặc biệt trong suốt thời gian thực
    hiện luận văn, học viên đã nhận được sự hướng dẫn trực tiếp, tận tình với tinh
    thần trách nhiệm cao của PGS.TS. Đinh Thị Minh Tuyết, Khoa Quản lý nhà
    nước về Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia. Học viên xin gửi lời tri ân và
    lòng biết ơn sâu sắc nhất đến quý cô.
    Để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp với đề tài “Quản lý nhà nước về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, học viên xin
    trân trọng cảm ơn Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk, UBND Thành phố Buôn Ma
    Thuột, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Hội Văn học Nghệ thuật
    tỉnh Đắk Lắk, Phòng Văn hóa Thông tin Thành phố Buôn Ma Thuột đã tạo điều
    kiện cung cấp tài liệu, thông tin để luận văn đảm bảo những cơ sở lý luận và
    thực tiễn.
    Mặc dù học viên đã nỗ lực, cố gắng để hoàn thành luận văn, tuy nhiên
    không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong quý thầy cô giáo, quý bạn đọc
    thông cảm.
    Xin trân trọng cảm ơn!
    Đắk Lắk, ngày 12/03/2017
    Học viên
    Nguyễn Thị Thúy Hiền

  5. -iv-
    MỤC LỤC
    Trang
    Trang bìa

    phụ
    Lời cam đoan ii
    Lời cảm ơn iii
    Mục lục iv
    Danh mục các chữ viết tắt viii
    MỞ ĐẦU 1
    1. Lý do nghiên cứu đề tài 1
    2. Tình hình nghiên cứu 2
    3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
    5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
    6. Đóng góp của luận văn 6
    7. Kết cấu của luận văn 7
    Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI
    SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
    8
    1.1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 8
    1.1.1. Văn hóa 8
    1.1.2. Di sản văn hóa 9
    1.1.3. Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 11
    1.1.4.
    Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    18
    1.2.
    Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên
    21
    1.2.1.
    Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước
    về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    21
    1.2.2.
    Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát
    triển di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    24
    1.2.3.
    Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước
    về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    26
    1.2.4. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và viên 30

  6. -v-
    chức chuyên môn

    về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    1.2.5.
    Hỗ trợ và huy động các nguồn lực để bảo tồn và phát triển
    văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    31
    1.2.6.
    Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý nhà nước
    về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    32
    1.2.7.
    Tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    33
    1.3.
    Sự cần thiết quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên
    33
    1.3.1.
    Định hướng hoạt động di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    33
    1.3.2.
    Điều chỉnh hoạt động di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    35
    1.3.3.
    Hỗ trợ và tạo điều kiện cho di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên phát huy giá trị
    36
    1.3.4.
    Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên
    36
    Tiểu kết chương 1 39
    Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI
    SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA
    BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
    40
    2.1.
    Khái quát về điều kiện phát triển và di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    40
    2.1.1. Khái quát về điều kiện phát triển của tỉnh Đắk Lắk 40
    2.1.2.
    Khái quát về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh
    Đắk Lắk
    43
    2.2.
    Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    49
    2.2.1.
    Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý
    nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    49
    2.2.2.
    Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo
    tồn và phát triển di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    55
    2.2.3. Thực trạng xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý 56

  7. -vi-
    nhà nước về

    di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    2.2.4.
    Thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
    và viên chức chuyên môn về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên
    59
    2.2.5.
    Thực trạng hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và vật
    chất để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên
    60
    2.2.6.
    Thực trạng thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động
    quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    61
    2.2.7.
    Thực trạng tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà
    nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    62
    2.3.
    Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    63
    2.3.1.
    Kết quả quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    63
    2.3.2.
    Hạn chế của quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    66
    2.3.3.
    Nguyên nhân của hạn chế quản lý nhà nước về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    67
    Tiểu kết chương 2 70
    Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG
    CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
    71
    3.1.
    Quan điểm và định hướng về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên
    71
    3.1.1.
    Quan điểm của Đảng về văn hóa và di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên
    71
    3.1.2.
    Định hướng và mục tiêu về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    75
    3.2.
    Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
    79
    3.2.1.
    Ban hành văn bản áp dụng và tổ chức thực hiện hiệu quả thể
    chế quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    79

  8. -vii-
    Nguyên
    3.2.2.
    Cụ thể hóa

    và tổ chức thực hiện chính sách về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    80
    3.2.3.
    Kiện toàn và ổn định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    81
    3.2.4.
    Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và bồi dưỡng nghiệp
    vụ cho viên chức chuyên môn về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên
    82
    3.2.5.
    Tăng hỗ trợ từ ngân sách, huy động nguồn lực tài chính và
    vật chất để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên
    84
    3.2.6.
    Thanh tra, kiểm tra thường xuyên và xử ký nghiêm vi
    phạm về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    86
    3.2.7.
    Cụ thể hóa các tiêu chí tổng kết và đánh giá hoạt động
    quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    87
    3.3.
    Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước cấp trung
    ương và chính quyền địa phương tỉnh Đắk Lắk
    88
    3.3.1. Đối với các cơ quan tổ chức cấp Trung ương 88
    3.3.2. Đối với các cơ quan tổ chức của Tỉnh Đắk Lắk 88
    Tiểu kết chương 3 90
    KẾT LUẬN 91
    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

  9. -viii-
    DANH MỤC CÁC

    CHỮ VIẾT TẮT
    NSƯT Nghệ sỹ ưu tú
    NNDG Nghệ nhân dân gian
    UBND Ủy ban nhân dân
    QL Quốc lộ
    VHTT & DL Văn hóa Thể thao và Du lịch

  10. -1-
    MỞ ĐẦU
    1. Lý

    do nghiên cứu đề tài
    Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và
    lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là
    “hậu duệ” của đàn đá. Trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại
    khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá, tre rồi đến thời đại đồ đồng, mới có chiêng
    đồng. Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống
    đồng. Cồng chiêng là biểu hiện của tín ngưỡng, là phương tiện giao tiếp với
    siêu nhiên, với âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa
    quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng đất trời
    và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ
    sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ
    đâm trâu, hay trong một buổi nghe khan đều phải có tiếng cồng.
    Cồng chiêng Tây nguyên là không gian văn hóa có giá trị nổi bật, thể
    hiện tài năng đích thực của nghệ nhân trong cộng đồng. Cồng chiêng Tây
    Nguyên bắt rễ sâu xa từ phong tục tập quán, truyền thống. Lịch sử, văn hóa,
    nghi lễ – lễ hội của cộng đồng. Cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện được bản
    sắc riêng của từng dân tộc, từng cộng đồng. Nó còn là phương tiện giao lưu
    giữa các dân tộc, làm cho dân tộc hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau trong mối
    quan hệ cộng đồng. Cồng chiêng Tây Nguyên còn là một bí quyết độc đáo
    của gia đình, dòng họ, được thể hiện ở một trình độ nghệ thuật cao của nghệ
    nhân âm nhạc truyền khẩu dân gian. Đồng thời, cồng chiêng Tây Nguyên
    được coi là một minh chứng độc đáo về truyền thống văn hóa đang còn sống
    động và tồn tại trong cộng đồng.
    Hiện nay trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ
    vào Việt Nam, cồng chiêng Tây Nguyên đang có nguy cơ biến mất do chưa

  11. -2-
    có chính sách

    bảo vệ thiết thực, hoặc do quá trình giao lưu văn hóa, quá trình
    đô thị hóa thay đổi xã hội quá nhanh. Do đó, vấn đề bảo tồn nguyên trạng và
    phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung, trên địa bàn tỉnh
    Đắc Lắc nói riêng, đã và đang đặt ra nhiều thách thức trong giai đoạn hiện
    nay, vì vậy quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực
    tiễn.
    Xuất phát từ lý do trên và đam mê tìm hiểu về văn hóa cồng chiêng,
    học viên đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và
    thực tiễn. Qua đó, góp phần vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về
    giá trị của di sản và đặc biệt đề xuất những giải pháp quản lý nhà nước để bảo
    tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản
    văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh
    giá thực trạng, từ cơ sở đó góp phần đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản
    lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk. Kết
    quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
    2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
    Quản lý nhà nước về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng ở
    nước ta nói chung trong giai đoạn hiện nay vẫn đang là vấn đề thu hút sự quan
    tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học. Chính vì vậy trong thời
    gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu đã được văn bản hóa bằng chữ
    viết, in thành sách giới thiệu rộng rãi đối với công chúng trong và ngoài nước
    dưới dạng xuất bản phẩm, băng đĩa, phim khoa học để giới thiệu các giá trị
    của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

  12. -3-
    Giá trị của

    cồng chiêng đó là sự tổng hòa các giá trị văn hóa đa dạng:
    giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; giá trị biểu thị đặc trưng
    văn hóa người hoặc nhóm tộc người; giá trị phản ánh đa chiều; giá trị nghệ
    thuật; giá trị sử dụng đa dạng; giá trị vật chất; giá trị biểu thị sự giàu sang và
    uy quyền; giá trị tinh thần; giá trị cố kết cộng đồng và giá trị lịch sử. Cồng
    chiêng đại diện cho văn hóa tây nguyên là nguồn sống là tín ngưỡng tâm linh
    của người dân, nhạc cụ này được dùng trong nhiều nghi lễ, tín ngưỡng quan
    trọng.
    Các dân tộc bản địa Đắk Lắk hiện có hai hệ thống lễ hội, đó là hệ
    thống lễ hội vòng đời người; hệ thống lễ hội nông nghiệp. Các nghi lễ này
    được tổ chức sau mùa rẫy (từ tháng 11 đến tháng 4). Đặc biệt các lễ hội
    thường gắn với văn hóa cồng chiêng, văn hóa rượu cần, nuwong, bến nước
    với ước vọng vươn đến cuộc sống bình đẳng hạnh phúc. Từ xa xưa người Ê
    Đê đã nhận thức rằng nghi lễ và lễ hội chính là những sinh hoạt văn hóa có
    tác dụng to lớn trong việc củng cố và tăng cường sức mạnh của tình đoàn kết,
    sự gắn bó của cộng đồng nenn những nghi lễ, lễ hội đặc sắc độc đáo như: lễ
    trưởng thành của chàng trai, lễ bỏ mã, lễ cúng bến nước, lễ cúng lúa mới, lễ
    cúng nhà mới, lễ rước Kpan, luôn luôn hiện diện trong đời sống sinh hoạt
    truyền thống cung với sự góp mặt của những nhạc cụ truyền thống do chính
    người Ê Đê chế tác chiêng, trống, Krơng.
    Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống lý
    luận về quản lý văn hóa trong đó đặc biệt lưu ý đến văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên. Nhiều cuốn sách, nhiều đề tài khoa học, nhiều luận văn nghiên cứu
    về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dưới nhiều góc độ khác
    nhau đã được công bố, nhiều học phần đã được đưa vào giảng dạy chính thức
    ở một số trường. Trong đó có một số công trình tiêu biểu như:

  13. -4-
    NXB Thế giới,

    Viện Văn hóa – Thông tin, Hà Nội (2006), Kiệt tác di
    sản truyền miệng và phi vật thể của nhân loại Không gian văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên [47].
    Viện Văn hóa – Thông tin, Hà Nội (2007), Bảo tồn và phát huy di
    sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam [51].
    Nhiều tác giả, Hà Nội (2008), Bảo vệ không gian văn hóa cồng chiêng
    Tây nguyên, kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại [35].
    Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam (2006), Một số vấn
    đề về Văn hóa – Xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên hiện nay, NXB
    Chính trị Quốc gia, Hà Nội [22].
    Đỗ Hồng Kỳ (2012), Văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên trong phát triển
    bền vững, NXB Từ điển bách khoa Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện
    Phát triển bền vững vùng Tây Nguyên [23].
    Linh Nga Niê Kdam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội (2012), Văn hóa
    Tây Nguyên giàu và đẹp [24];
    Nguyễn Chí Bền, Nguyễn Tri Nguyên, Võ Hoàng Lan, NXB Văn hóa
    Dân tộc, Hà Nội (2006), Các nhạc cụ gõ bằng đồng những giá trị văn hóa [4].
    Tuy nhiên, về góc độ quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa có nhiều công trình nghiên
    cứu sâu cho lĩnh vực quản lý nhà nước một các cụ thể, toàn diện, nhất là trong
    giai đoạn phát triển hiện nay, vì vậy học viên cập nhật những kiến thức lý
    luận và thực tiễn hiện nay, kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó để làm
    hướng nghiên cứu và giải quyết những yêu cầu đặt ra cho đề tài luận văn. Vì
    vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là không trùng với các công trình đã
    nghiên cứu.

  14. -5-
    3. Mục đích

    và nhiệm vụ nghiên cứu
    3.1. Mục đích nghiên cứu
    Nghiên cứu đề tài luận văn góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về
    di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
    3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
    + Phân tích cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên.
    + Phân tích, đánh giá và xác định nguyên nhân thực trạng quản lý nhà
    nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk.
    + Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk.
    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
    4.1. Đối tượng nghiên cứu
    Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    4.2. Phạm vi nghiên cứu
    – Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung quản lý
    nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cấp tỉnh.
    – Không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
    – Thời gian: Nghiên cứu thực trạng được thực hiện từ năm 2005, thời
    điểm không gian văn hóa cồng chiêng được UNESCO chính thức công nhận
    là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đến nay, đồng thời
    nghiên cứu định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
    5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
    5.1. Phương pháp luận
    Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

  15. -6-
    Mác Lênin về

    phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ
    Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa và di sản
    văn hóa phi vật thể nói chung, di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói
    riêng.
    5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
    Để giải quyết những nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp
    tương thích các phương pháp nghiên cứu, cụ thể như sau:
    Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: được sử dụng với việc tìm hiểu
    các công trình nghiên cứu đi trước, qua đó bổ sung các luận cứ khoa học khi
    đi vào nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên. Trên cơ sở đó tập trung giải quyết những vấn đề còn vướng mắc
    về lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
    Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tập trung vào thống kê, báo cáo
    thực tế nhằm làm phong phú hơn các tài liệu nghiên cứu, đây là phương pháp
    giúp tác giả tiếp cận và thu lượm được những thông tin chính xác, bổ sung
    nguồn số liệu định lượng cho luận văn.
    Phương pháp chuyên gia: thu thập và tiếp thu ý kiến của các chuyên
    gia, các nhà nghiên cứu am hiểu về chủ đề này là hết sức cần thiết cho luận
    văn.
    Phương pháp xử lý thông tin, số liệu, tư liệu: thống kê, phân tích, tổng
    hợp số liệu, so sánh, xử lý thông tin một cách khoa học và có hệ thống bằng
    phần mềm tin học.
    6. Đóng góp của luận văn
    6.1. Về lý luận
    Đề tài góp phần tổng hợp và hệ thống lý luận cơ bản quản lý nhà nước
    về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

  16. -7-
    6.2. Về thực

    tiễn
    Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk; Đề xuất những giải pháp góp
    phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    ở tỉnh Đắk Lắk.
    Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý địa phương
    trong việc nghiên cứu và hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk.
    7. Kết cấu nội dung của luận văn
    Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
    chính của đề tài được kết cấu gồm 03 chương, cụ thể như sau:
    Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên
    Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
    Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

  17. -8-
    CHƯƠNG 1
    CƠ SỞ

    LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN
    VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
    1.1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn
    1.1.1. Văn hóa
     Khái niệm
    Văn hóa là một khái niệm rộng, cùng với quá trình phát triển, văn hóa
    ngày càng có nội dung phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tổng
    giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt
    động dân tộc trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng
    tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu
    – những yếu tố xác định đặc tính riêng biệt của mỗi dân tộc [46].
    Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã có một số
    học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Văn hóa được
    Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ những giá
    trị vật chất, những giá trị tinh thần và phương thức sinh hoạt của con người:
    “Vì sự sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
    phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn
    hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ở và các
    phương thúc sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
    hóa” [17].
    Như vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dưới các góc độ khác
    nhau. Từ những quan niệm đó, ta nhận thấy:
    Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con
    người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử – xã hội, mang tính chất

  18. -9-
    chân, thiện, mỹ

    và phục vụ cho sự sinh tồn, phát triển của con người, xã hội
    loài người.
    Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ các giá trị tinh thần do con người
    sáng tạo, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội.
    Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VIII,
    1998), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của
    xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
    Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh
    kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là
    kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để
    không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,
    bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc [9].
     Vai trò
    Văn hóa là sản phẩm của loài người nó được tạo ra và phát triển trong
    quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Tuy nhiên chính văn hóa lại tham
    gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa
    được truyền từ thế hệ này sang thế khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn
    hóa được tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của
    con người. Văn hóa là trình độ phát triển con người của xã hội được biểu hiện
    trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người
    vũng như trong giá trị vật chất tinh thần mà do con người tạo ra và được con
    người thừa nhận bao gồm trong đó có cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ. Xây dựng
    và phát triển tốt những thành tố cấu thành khái niệm văn hóa chính là để tạo
    ra nền tảng tinh thần cho xã hội góp phần khai thác và phát huy sức mạnh nội
    sinh.
    1.1.2. Di sản văn hóa
     Khái niệm

  19. -10-
    Từ điển tiếng

    Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Hà
    Nội – Đà Nẵng, xuất bản năm 1998, khái niệm di sản được chú thích là tài sản
    của người chết để lại; cái của thời trước để lại.
    Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên của Bửu kế – Nhà xuất bản Thuận
    Hóa, 1999 thì khái niệm Di sản được giải thích là: di là để lại, sản là của cải –
    của cải giá trị của người chết của người trước để lại. Ví dụ: những giá trị quý
    báu của cha ông chúng ta cần giữ gìn, tiếp thu và phát triển.
    Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam [27] và Luật Di sản văn hóa sửa
    đổi, bổ sung năm 2009 [29], Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của
    cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân
    loại có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.
     Vai trò
    Di sản văn hóa dân tộc bao hàm nhiều giá trị và tinh hoa do các thế hệ
    tiền nhân để lại và lưu truyền. Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầu
    dựng nước đã biết tôn trọng, sáng tạo và giữ gìn các giá trị văn hóa, đặc biệt
    đã biết sáng tạo và phát huy sức mạnh văn hóa vào sự nghiệp xây dựng và bảo
    vệ Tổ quốc. Trước những thử thách của thời gian và lịch sử của thiên tai và
    địch họa ông cha ta đã biết khơi nguồn sức mạnh từ chiều sâu của nền văn
    hóa dân tộc, biết chắc lọc tinh hoa từ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
    dân tộc, thấm đượm tính nhân văn. Chúng ta khẳng định di sản văn hóa là
    những giá trị vật chất và tinh thần do ông cha đã đúc kết, xây dựng và truyền
    lại cho chúng ta đến ngày nay. Nước ta với hơn 54 dân tộc anh em có một kho
    tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng như Hồ Chủ Tịch đã nói,
    nó là những “hòn ngọc quý”. Cho nên, quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    của ông cha để lại là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bánh nhằm giữ gìn và
    phát huy bản sắc dân tộc.

  20. -11-
    Nghị quyết Hội

    nghị lần thứ 5 – Ban chấp hành Trung ương Đảng
    khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
    bản sắc dân tộc đã nêu rõ: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng
    dân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và
    giao lưu văn hóa [9]. Ngoài ra, di sản văn hóa góp phần thỏa mãn nhu cầu văn
    hóa của nhân dân, nâng cao ý thức tự hào dân tộc, góp phần phát triển kinh tế
    – xã hội đất nước.
     Phân loại
    Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa
    vật thể là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
    được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ
    nghĩa Việt Nam. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị
    lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết được lưu
    truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ,
    lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói chữ viết, tác phẩm, văn học nghệ thuật,
    khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ
    hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền,
    về văn hóa ẩm thực về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân
    gian khác. Di sản văn hóa thường gắn kết với cộng đồng xã hội ở những cấp
    độ khác nhau. Có di sản văn hóa của một gia đình, một dòng họ của làng, bản,
    tộc người nhưng quan trọng hơn là di sản văn hóa của dân tộc – quốc gia.
    1.1.3. Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
     Khái niệm
    Cồng chiêng là nhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau,
    hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính khoảng từ 20 cm đến 60 cm, ở
    giữa có hoặc không có núm. Người ta dùng dùi gỗ có quấn vải mềm (hoặc dùng
    tay) để đánh cồng, chiêng. Cồng, chiêng càng to thì tiếng càng trầm, càng nhỏ thì

  21. -12-
    tiếng càng cao.

    Cũng như các dân tộc Tây Nguyên khác: Cồng Chiêng được xem
    là nhạc cụ linh thiêng nên thời kỳ đầu, chinh Ê-đê sử dụng để kết nối giữa con
    người và thần linh, về sau mới được sử dụng trong các lễ hội dân gian.
    Trong cuốn Nhạc khí dân tộc Việt, xuất bản năm 2001, định nghĩa:
    Cồng, Chiêng là loại nhạc khí tự thân vang gõ phổ biến tại Việt Nam, đồng
    thời ở một số nước khác ở Châu Á cũng có. Cồng, Chiêng làm bằng đồng
    thau hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỷ lệ các hợp kim rất khác nhau tùy theo
    nơi đúc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên, chung quanh có gờ gọi là thành.
    Cồng luôn luôn có núm ở giữa, Chiêng có hai loại: Chiêng có núm ở giữa gọi
    là Chiêng núm và Chiêng không có núm gọi là Chiêng bằng [42].
    Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon
    Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn
    hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông,
    Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai. Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của
    người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả
    niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của
    họ.
    Người Tây Nguyên chơi cồng chiêng với nhiều phong cách khác nhau,
    rất phong phú, rát bài bản. Nếu người Giarai và người Bana có phương pháp
    đánh chỉ điệu một bài trầm đánh trên một vài giai điệu thì người Êđê đánh
    theo cách thức từng chùm. Trong đó, chiêng núm làm bè trầm, chiêng bằng
    đánh giai điệu. Khi biểu diễn vòng tròn các nghệ nhân đánh và di chuyển dàn
    cồng chiêng từ phải sang trái với ý nghĩa ngược chiều với thời gian, hướng về
    cội nguồn. Tiếng cồng chiêng hòa nhịp âm vang gợi cho người nghe thấy
    được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội, những âm
    thanh ngân nga, sâu lắng, khi thối thúc khi hòa quyện với suối nguồn với

  22. -13-
    tiếng gió đại

    ngàn và với cả lòng người sẽ là nguồn gốc của những áng sử thi
    huyền thoại và lãng mạn.
    Như vậy, văn hóa cồng chiêng Tây nguyên là tổng thể những mối liên
    hệ của con người với cồng chiêng thông qua sử dụng cồng chiêng đa dạng với
    nhiều mục đích và chức năng khác nhau, gắn bó thường xuyên, lâu dài với đời
    sống thường ngày cũng như đời sống tín ngưỡng của con người.
    Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO
    chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân
    loại vào ngày 25-11-2005. Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây
    Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di
    sản của thế giới. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt
    5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của
    loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana,
    Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai. Cồng chiêng gắn bó mật thiết
    với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con
    người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh
    hoạt hàng ngày của họ. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi
    chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền
    lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho
    quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi
    hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa
    quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang
    vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo.
    Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm
    chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Tồn tại trên mảnh
    đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây

  23. -14-
    đã phát triển

    đến một trình độ cao vì thế mà cồng chiêng Tây Nguyên rất đa
    dạng, phong phú.
     Đặc điểm đặc trưng
    Cồng chiêng là tên gọi chung cho loại nhạc khí thân vang gõ, có nhiều
    tên gọi khác nhau (theo vùng hoặc theo tộc người) với các đặc điểm: Chất liệu
    hợp kim đồng; Dạng phiến mỏng, bề mặt hình tròn; Có núm hoặc không có
    núm; Có thành ở vành ngoài; Đơn âm, đơn chiếc hoặc kết cấu thành dàn,
    nhiều kích cỡ.
    Nếu Từ điển Bách khoa Việt Nam coi “cồng” là tên chung và Từ điển
    Văn hóa cổ truyền Việt Nam coi “chiêng” là tên chung cho hai dạng có nắm
    và không nắm, thì tài liệu trên đã cố gắng tách biệt rạch ròi hai dạng đó gắn
    với việc định danh cụ thể: Cồng luôn luôn có núm ở giữa, Chiêng có hai loại:
    Chiêng có núm ở giữa gọi là Chiêng núm và Chiêng không có núm gọi là
    Chiêng bằng”. Theo đó, người ta hoàn toàn có thể gọi cồng là “chiêng núm”
    và ngược lại, gọi chiêng núm là “cồng”.
    Cũng có thuyết cho rằng cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc
    truyền thống lịch sử lâu đời, là “hậu duệ” của đàn đá trước khi có văn hóa
    đồng, người xưa đã tìm được loại khí cụ bằng đá: cồng đá, chiêng đá, rồi tới
    thời đại đồ đồng mới có chiêng đồng, cồng đồng. Từ thuở sơ khai cồng
    chiêng được đánh lên để mừng hội lúa mới, hội xuống đồng, đó là một biểu
    hiện của tín ngưỡng, là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên. Âm thanh cồng
    chiêng khi sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng
    gió của đất trời và tiếng lòng của con người Tây Nguyên. Vì vậy mà tất cả các
    lễ hội trong năm từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng
    nước, lễ cúng cơm mới, lễ đâm trâu, đều phải có cồng chiêng bởi tiếng chiêng
    chính là chiếc cầu nối liền con người với đất trời, kết dính các thế hệ.

  24. -15-
    Dân gian không

    có từ “cồng chiêng”. Mỗi tộc người có cách gọi riêng
    của mình về loại nhạc khí này. Đây là loại nhạc khí có hình thù thô phác, cấu
    tạo đơn giản (dạng phiến mỏng, hình tròn, chất liệu đồng, có thành ở vành
    ngoài, có núm hoặc không có núm ở giữa), với nhiều kích cỡ khác nhau, khi
    không sử dụng tồn tại ở dạng đơn lẻ.
    Người Kinh, người Mường dùng cả tên “cồng” và “chiêng” gọi loại
    nhạc khí nêu trên. Đó là hai tên gọi dành cho một dạng hình thù: có núm,
    (núm chiêng người Mường gọi là “ngôi”), dạng không núm gọi là “thanh la”
    (người Mường còn gọi là “lệnh” hoặc “phèng la”). Người Mường dùng tên
    “chiêng” làm cách gọi phổ biến nhất, tên “cồng” đôi khi cũng được dùng.
    Người Khmer Nam Bộ gọi loại nhạc khí trên như sau: nếu không có
    núm là “Khmuôs”, và nếu có núm là “Kôông Môôn” hoặc “Kôôn Skô” [4].
    Người Gia Lai gọi là “chinh”, “chêng”, trong đó “chêng” là loại có
    núm… Nếu “tròn 1 bộ 16 cái” thì gọi là “Chinh chêng” [4].
    Người Ê Đê không phân biệt có núm, không có núm họ đều gọi là
    “chinh” [4] hay còn có tên gọi khác là Ching Knăh. Ching Ê-đê: Được gọi là
    nhạc cụ thuộc bộ gõ định âm vì khi diễn tấu phát ra cao độ, tiết tấu, trường độ và
    âm sắc. Đó là những thuộc tính của âm thanh có tính nhạc.
    Người M’nông gọi loại có núm là “goong”, loại không núm là
    “cheeng” [6]. Theo đó, cách gọi “chêng” của người M’nông, căn cứ hình thù,
    ngược lại với người Gia Rai, (đối với người Gia Rai, “chênh” có núm).
    Ngoài ra, các tộc người Tây Nguyên tương đối phổ biến cách gọi mỗi
    chiếc cồng (hoặc chiêng) theo tên riêng hoặc theo thứ bậc trong gia đình, như
    chiêng chồng chiêng vợ (bộ chiêng Tha của người Brâu), chiêng mẹ chiêng chị
    chiêng em.
    Như vậy, trong dân gian, rất ít tộc người sử dụng từ ghép để gọi tên
    loại nhạc khí trên, đa số họ chỉ dùng từ đơn. Có tộc, theo tên gọi, người ta

  25. -16-
    phân biệt hình

    thù có núm hay không núm, có tộc chỉ dùng một tên, không
    phân biệt hình thù và có tộc thì dùng tới hai cái tên cho một dạng hình thù.
    Từ điển Văn hóa dân gian của các tác giả Vũ Ngọc Khánh, Phạm
    Minh Thảo, Nguyên Vũ có định nghĩa liên quan đến cồng chiêng:
    – Chinh chiêng – Tên gọi bộ chiêng, cổng nhạc cụ của người Ba Na
    (Tây Nguyên). Một bộ chinh chiêng hoàn chỉnh thường gồm 5 chiếc có núm
    và 8 chiếc chiêng bằng không có núm. Chinh chiêng chỉ được phép dùng
    trong các nghi lễ lớn, trọng thể của làng như lễ đâm trâu, bò mả, cúng bến
    nước, lên nhà mới, cưới [ 4 ].
    – Cồng (cũng gọi: chiêng) – Nhạc cụ thuộc bộ gõ, nguồn gốc phương
    Đông, làm bằng đồng, kích thước lớn hình lòng chảo, treo trên một cái giá gỗ,
    dùng dùi của trống lớn để gõ. Cồng Tây Nguyên gồm 20 chiếc, đường kính 25-30
    cm trở lên đến hơn 1m, có thể tạo thành những âm điệu phong phú, độc đáo [4].
    Cồng chiêng là vật có giá trị vật chất rất lớn. Những chiêng lâu đời, có
    thể có giá trị như nhiều con trâu, con voi đã thuần dưỡng. Trong một số luật
    tục của một số dân tộc Tây Nguyên, khi thành viên trong cộng đồng vi phạm
    quy định nào đó thật lớn, thật nặng, cộng đồng sẽ xử phạt người ấy bằng một
    hay nhiều chiếc cồng chiêng. Người ta đánh giá sự giàu có hay nghèo khổ
    thông qua số lượng cồng chiêng mà họ sở hữu.
    Như vậy cồng chiêng là loại nhạc khí gõ của đồng bào dân tộc ít
    người trong cả nước. Nhiều buôn làng, bản mường có số lượng cồng chiêng
    rất lớn (hàng ngàn bộ). Cồng chiêng được sử dụng trong các lễ hội lớn nhỏ:
    cầu mưa, đâm trâu, đám tang, bỏ mả. Cồng chiêng quy tụ quanh mình nhiều
    loại hình nghệ thuật dân gian: nhảy múa, ca hát, tạo hình. Cồng chiêng không
    riêng gì ở Việt Nam mà địa bàn phân bố rất rộng trong cả vùng Đông Nam Á.
    Con người tin rằng trong mỗi cái cồng chiêng đều có một vị thần trú
    ngụ. Vị thần này là nữ tính hay nam tính tùy theo niềm tin của từng tộc người.

  26. -17-
    Chẳng hạn như

    ở người Ê Đê, tộc người này còn theo chế độ mẫu hệ, thần
    chiêng là nữ. Nhưng ngay cả tộc người Ba Na, ngành Tồ Lồ thì thần chiêng
    cũng là nữ. Sức mạnh thiêng của cái chiêng cồng không phải có ngay từ lúc
    nó mới được chế tác. Người Tây Nguyên không tự mình đúc được chiêng
    cồng mà phải mua chủ yếu từ các cơ sở đúc chiêng của người Việt ở đồng
    bằng duyên hải Trung Bộ. Ở các vùng gần biên giới Cộng hòa dân chủ nhân
    dân Lào, Vương quốc Campuchia, người dân có thể mua một số từ nước láng
    giềng. Chiêng mua về phải trải qua quá trình chỉnh âm thanh để theo hàng âm
    của tộc người. Mỗi tộc người Tây Nguyên đề có nghệ nhân chỉnh chiêng
    (tiếng Ba Na là Book Tul Chêng). Sau khi có được âm thanh mong muốn,
    người ta còn làm lễ hiến sinh để mời thần chiêng về trú ngụ trong chiêng và
    chỉ sau đó chiêng mới thực sự là của cải vật chất và tinh thần của con người.
    Do đó, cái chiêng càng lâu đời bao nhiêu thì sức mạnh của vị thần trong nó
    càng lớn bấy nhiêu.
    Trong xã hội cổ truyền, con người có ít nhất ba mối quan hệ: đó là
    quan hệ với thiên nhiên thông qua quá trình canh tác cây trồng, quan hệ với
    xã hội thông qua các tục lệ và tín ngưỡng, quan hệ với dòng đời mỗi con
    người thành viên. Để hiện thực hóa các mối quan hệ đó, con người tổ chức
    các nghi lễ, các hoạt động văn hóa trong cộng đồng và tất nhiên cồng chiêng
    có mặt trong các nghi lễ hay hoạt động đó như một thành tố không thể thiếu.
    Đối với dòng đời người chẳng hạn, có các lễ: Lễ thổi tai: theo quan niệm của
    người đồng bào khi được đẻ ra, tai đứa trẻ chưa được thông. Nay đem cái
    chiêng đến đánh bên tai nó, nó sẽ nhận được lời răn dạy của tổ tiên và khi lớn
    lên, nó sẽ sống theo phong tục và phẩm chất đòi hỏi của dân tộc mình; Lễ
    cưới; Lễ mừng lên lão; Lễ tang; Lễ bỏ mả; Lễ dựng nhà mới. Đối với cây
    trồng và tâm linh cộng đồng người ta thường nhắc đến các lễ thức uy nghi,
    hoành tráng như lễ đâm trâu mừng sức khỏe, lễ mừng chiến thắng, lễ xuống

  27. -18-
    giống, lễ ăn

    cốm, lễ gặt lúa, lễ đưa lúa vào kho. Cũng có cả lễ cúng bến nước,
    lễ cúng vía lúa, cúng vía trâu, bò v.v…
    Cồng chiêng trở thành sức mạnh tinh thần và là biểu tượng của toàn
    cộng đồng trong thế ứng xử với thiên nhiên, xã hội đồng thời là nhân tố gắn
    kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cộng đồng.
    1.1.4. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
     Khái niệm
    Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền
    lực Nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực
    hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở pháp
    luật” [18]. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt mang tính
    quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người
    trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà
    nước thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn
    định và phát triển của xã hội. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công,
    hợp tác lao động, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ
    lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ
    phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao
    thì yêu cầu quản lý và vai trò quản lý càng tăng lên.
    Quản lý nhà nước về văn hóa: là những công việc của Nhà nước được
    thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát
    việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa. Quản lý nhà nước
    về văn hóa phải gắn liền với chức năng nhiệm vụ của bộ máy quản lý từ trung
    ương đến địa phương. Theo đó cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương là
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ở các cấp chính quyền địa phương là Sở
    Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh, phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch

  28. -19-
    cấp huyện, thị

    xã và Ban văn hóa cấp xã, phường. Trong hệ thống đó vai trò
    của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng.
    Quản lý nhà nước về di sản văn hóa: được hiểu là các hoạt động chấp
    hành, điều hành của cơ quan Nhà nước, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và
    thi hành luật pháp đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản
    văn hóa dân tộc bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.
    Cụ thể là quá trình ban hành chính sách, định hướng, huy động, tổ chức, điều
    hành các nguồn lực nhằm thực hiện bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản
    văn hóa và tổ chức thực hiện các công việc khác liên quan đến di sản văn hóa.
    Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: quản lý
    nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng là sự định hướng tạo điều kiện để tổ
    chức điều hành hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng được
    phát huy theo chiều hướng tích cực. Với tư cách là quản lý nhà nước trên một
    lĩnh vực cụ thể, quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng là sự tác động
    của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp đến di sản
    văn hóa cồng chiêng và các hoạt động của con người để gìn giữ những giá trị di
    sản văn hóa cồng chiêng, tạo cơ sở cho việc hình thành các giá trị mới.
    Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là hoạt
    động quản lý nhằm bảo tồn, phát huy sáng tạo các giá trị của di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên, đồng thời nâng cao vai trò của di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên đối với sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực Tây
    Nguyên nói chung và ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Như vậy, cần có biện pháp
    quản lý phù hợp mới phát huy hết được những giá trị của di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên trong đời sống đương đại. Trong quản lý nhà nước về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, mục đích về văn hóa cần thống nhất
    với mục đích về kinh tế và cơ chế tạo nên sự hài hòa, tương tác giữa chúng.

  29. -20-
    Theo quy định

    hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu
    trách nhiệm, đồng thời phối hợp cùng các cơ quan chức năng và chính quyền
    địa phương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung, nhưng được phân
    chia trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhà
    nước có liên quan.
     Chủ thể quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    Chủ thể quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là
    hệ thống bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương.
    Cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương: là Chính phủ, các cơ quan
    thuộc Chính phủ như: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Bộ, Ban,
    Nghành, cơ quan ngang Bộ… có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về bảo
    tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa. Điều 55 Luật Di sản văn hóa Việt
    Nam quy định: “Bộ Văn hóa – Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ
    thực hiện quản lý về di sản văn hóa. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
    thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo sự
    phân công của Chính phủ” [27; 29].
    Cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp địa phương là UBND các cấp, các
    cơ quan chức năng trực thuộc UBND các cấp như Sở Văn hóa, Thể thao và Du
    lịch cấp tỉnh, phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp huyện, thị xã và Ban văn
    hóa cấp xã, phường và các sở ban ngành có thẩm quyền trong quản lý nhà nước
    về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở địa
    phương. Khoản 4, Điều 55, Luật Di sản văn hóa Việt Nam [27; 29] quy định:
    UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc
    quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ.
    Trong hệ thống bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa
    phương, chủ thể có vai trò trực tiếp và vô cùng quan trọng đó là chính quyền
    địa phương. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong việc quản lý

  30. -21-
    di sản văn

    hóa phi vật thể có sự phân công rõ ràng, trao quyền mạnh mẽ cho
    địa phương. Chính quyền địa phương là chủ thể tự kiểm kê và lập hồ sơ khoa
    học di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương mình.
    1.2. Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    1.2.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trước
    hết là việc xây dựng và ban hành, tổ chức thực thi các văn bản pháp luật về
    công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng. Đây là công cụ
    quan trọng và hữu hiệu trong công tác quản lý. Từ khi nhà nước xuất hiện
    pháp luật đã thể hiện vai trò của mình và ngày càng được chú trọng để hoàn
    thiện hơn trong việc quản lý xã hội. Vì vậy cũng như những lĩnh vực khác,
    pháp luật là công cụ quan trọng nhất để điều chỉnh các hoạt động nhằm mục
    tiêu quản lý di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    Hiến pháp 1992 của Việt Nam có dành chương II với một số điều
    khoản luật nhà nước đối với sự phát triển và vận hành các hoạt động văn hóa.
    Tại điều 30 qui định: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt
    Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền
    văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;
    tiếp thu tinh hoa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân;
    Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa.
    Hiến pháp 2013 của Việt Nam, Điều 60, Chương III quy định: Nhà
    nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
    đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; Nhà nước, xã hội
    phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và
    lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng

  31. -22-
    nhằm đáp ứng

    nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng
    và bảo vệ Tổ quốc; Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt
    Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe,
    văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách
    nhiệm công dân.
    Nhà nước đã xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất để bảo tồn
    và phát huy hệ thống di sản văn hóa thông qua các văn bản và các văn bản đó
    đã cụ thể hóa chính sách, phương hướng, mục tiêu cũng như những cách thức
    để thực hiện hoạt động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nói chung, di sản phi
    vật thể nói riêng trong đó có di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    Cụ thể là:
    Quyết định số 25-TTg ngày 19/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ đã ban
    hành về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ
    thuật.
    Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, (thông qua ngày 16/7/1998) về
    xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
    Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (ban hành kèm theo
    Quyét định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 về việc phê duyệt Chiến lược
    phát triển văn hóa đến năm 2020) đã nêu vấn đề bảo tồn phát huy di sản văn
    hóa dân tộc.
    Quyết định số 36/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
    24/02/2005 về việc lấy ngày 23/11 hàng năm là “ngày Di sản văn hóa Việt
    Nam”. Đây là một trong những hành động thiết thực khẳng định giá trị của di
    sản văn hóa, giúp cho người dân quan tâm và tôn vinh giá trị của di sản văn
    hóa, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.
    Năm 2001, Việt Nam đã ban hành Luật di sản văn hóa với cách tiếp
    cận khái niệm di sản văn hóa hoàn thiện và đầy đủ hơn bao gồm: Di sản văn

  32. -23-
    hóa vật thể

    và di sản văn hóa phi vật thể. Đến năm 2009, Luật sửa đổi, bổ
    sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2001, tiếp tục hoàn thiện về
    cách nhận diện cũng như biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Có thể
    thấy Luật di sản văn hóa của Việt Nam phù hợp với các điều ước quốc tế về
    di sản văn hóa mà Việt Nam đã tham gia. Luật di sản văn hóa đã có những
    quy định riêng đối với di sản văn hóa phi vật thể, khái niệm về di sản văn hóa
    vật thể và di sản văn hóa phi vật thể; quyền và nghĩa vụ của các cá nhân đối
    với di sản văn hóa, quy định riêng đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị của
    di sản văn hóa phi vật thể trong đó có di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên.
    Trong Luật di sản văn hóa năm 2001, nội dung bảo vệ và phát huy di
    sản văn hóa phi vật thể chiếm 11 điều. Sau gần 8 năm thi hành, các điều
    khoản về di sản văn hóa phi vật thể được sửa đổi, bổ sung đáng kể với sự cụ
    thể, chi tiết, phù hợp với lý luận và thực tiễn. Các loại hình văn hóa phi vật
    thể được xác định gồm có 7 loại hình cơ bản: Tiếng nói, chữ viết; ngữ văn
    dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội
    truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian. Nhiệm vụ, quyền
    hạn của cơ quan Nhà nước trong việc quản lý di sản văn hóa phi vật thể có sự
    phân công rõ ràng, trao quyền mạnh mẽ cho địa phương. Chính quyền địa
    phương là chủ thể tự kiểm kê và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể
    tại địa phương mình.
    Dưới Luật di sản văn hóa còn có các văn bản hướng dẫn chi tiết thi
    hành. Nội dung pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể đã đề cập đến hoạt
    động bảo vệ gồm: nhận diện các loại hình văn hóa phi vật thể; quyền và nghĩa
    vụ của các tổ chức, cá nhân; các biện pháp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa
    phi vật thể; quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể.

  33. -24-
    Đối với nghệ

    nhân – những báu vật nhân văn sống, các quy định đã thể
    hiện rõ thái độ ứng xử của Nhà nước, vừa tôn vinh, đề cao, tôn trọng, vừa
    chăm lo đời sống của nghệ nhân như quy định tại điều 26 Luật di sản văn hóa
    2001; điều 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm
    2009 [29] và điều 65 của Luật Thi đua khen thưởng [32].
    1.2.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đối với di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    Chính sách của nhà nước được ban hành nhằm điều chỉnh nhiều lĩnh
    vực xã hội khác nhau, trong đó văn hóa xã hội luôn là một trong những vấn đề
    được quan tâm hàng đầu. Hiện nay, nhà nước đã chú trọng quan tâm nhiều
    hơn đến công tác bảo tồn và phát triển hệ thống di sản văn hóa tại Việt Nam.
    Để thực hiện điều này, Việt Nam đã có những chính sách nhằm xây dựng
    phương hướng, mục tiêu cũng như những cách thức để thực hiện hoạt động
    bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể, di sản
    văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng.
    Chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể là sự thể
    chế các quan điểm và phương hướng phát triển văn hóa, nhằm tác động lên
    các nhóm cộng đồng văn hóa, cộng đồng chính trị và cộng đồng dân cư để
    giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
     Khách thể của chính sách
    Cộng đồng văn hóa: Các nghệ sỹ, nghệ nhân, cộng đồng người dân
    địa phương, du khách, nhà nghiên cứu, doang nghiệp, các tổ chức xã hội, nhà
    giáo dục, nhà hoạt động văn hóa, nhà sáng tác nghệ thuật, người làm phim,
    người xuất bản, cộng đồng văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt
    động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nói chung và di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng, bởi vì:

  34. -25-
    Cộng đồng người

    dân địa phương là chủ thể quan trọng nhất trong
    hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồng
    chiêng. Di sản văn hóa phi vật thể nếu được đưa về với cộng đồng càng nhiều,
    càng lâu thì giá trị và sức ảnh hưởng của di sản càng lớn. Yếu tố cộng đồng, ý
    thức của cộng đồng dân cư tại địa phương mới chính là bảo tồn và phát huy di
    sản, ảnh hưởng trực tiếp đến di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồng
    chiêng. Khi di sản văn hóa phi vật thể đã sống trong cộng đồng, nghĩa là được
    cộng đồng đón nhận thì tự khắc giá trị của di sản đó sẽ được bảo tồn.
    Các bên liên quan khác như du khách, các nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà
    nghiên cứu, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nhà giáo dục, nhà hoạt động
    văn hóa, nhà sáng tác nghệ thuật, người làm phim, người xuất bản… cũng có
    vai trò rất quan trọng và mật thiết với cộng đồng người dân địa phương trong
    hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, những thành phần
    này chính là nhân tố để nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng và quảng bá để tăng
    thêm tính lan tỏa của di sản văn hóa phi vật thể. Vì vậy cần phải hỗ trợ,
    khuyến khích các nỗ lực của cộng đồng văn hóa trong việc bảo tồn và phát
    huy di sản.
    Cộng đồng công chúng: gồm công chúng tập thể, công chúng hiện
    thực và công chúng tiềm năng.
    Cộng đồng chính trị: gồm các cơ quan Đảng, cơ quan chính quyền và
    các đoàn thể ở Trung ương và địa phương.
     Đối tượng của chính sách
    Là các vấn đề nảy sinh trong hoạt động văn hóa về bảo tồn và phát
    huy di sản văn hóa phi vật thể cần được hỗ trợ. Thực hiện mục tiêu đường lối
    chính sách của Đảng, chủ trương luật pháp của Nhà nước về phát triển văn
    hóa và bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể,

  35. -26-
    Hầu hết các

    chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật
    thể – di sản văn hóa cồng chiêng của Nhà nước đều thể hiện dưới hình thức
    các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan luật pháp và Nhà nước (các nghị
    định, thông tư, Quyết định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; quy định,
    thông tư của Bộ trưởng Bộ VHTT & DL).
     Phân loại chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể
    Theo đối tượng tác động (3 cộng đồng).
    Theo phạm vi tác động (chung cho xã hội, riêng cho từng nhóm đối
    tượng hoặc theo lĩnh vực tác động như: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn…).
    Theo thời gian: dài hạn và ngắn hạn.
    Theo nguồn kinh phí: Nhà nước cấp, vay từ các tổ chức tín dụng, huy
    động cộng đồng và tài trợ quốc tế.
    1.2.3. Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về
    văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
     Cấp trung ương
    Theo Nghị định 81/CP ngày 08/11/1993 Bộ Văn hóa – Thông tin là cơ
    quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về văn hóa thông
    tin trong cả nước. Bộ có một số nhiệm vụ về quản lý di sản văn hóa phi vật
    thể cũng như di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như sau:
    Định hướng nội dung các hoạt động về văn hóa – thông tin cho các tổ
    chức và công dân theo đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
    Xây dựng các chính sách nhằm bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân
    tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, khuyến khích những tài năng
    sáng tạo, phổ biến những giá trị văn hóa, nghệ thuật, khoa học, nâng cao trình
    độ thẩm mỹ và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

  36. -27-
    Tổ chức đào

    tạo bồi dưỡng các tài năng văn hóa nghệ thuật, trực tiếp
    quản lý trường đại học, cao đẳng và trung cấp về văn hóa nghệ thuật theo quy
    định của Chính phủ.
    Tổ chức, hướng dẫn việc sưu tầm, bảo quản, lưu trữ và phát huy
    những di sản văn hóa của các dân tộc anh em trong cả nước.
    Hướng dẫn việc chỉ đạo và xây dựng các nếp sống văn hóa, các lễ hội,
    tổ chức vui chơi giải trí, hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật điện ảnh, báo
    chí, thông tin cổ động, hội chợ, triển lãm, ngày hội văn hóa các dân tộc Việt
    Nam.
    Tổ chức chỉ đạo công tác thanh tra chuyên ngành về các hoạt động
    văn hóa, thông tin trong các nước.
    Để giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Bộ Văn
    hóa – Thông tin có 7 chức năng (Kế hoạch, Tài chính – Kế toán, Tổ chức cán
    bộ, Đào tạo, Hợp tác quốc tế, Thanh tra và Pháp chế) và 10 vụ, cục chuyên
    môn (Văn hóa dân tộc miền núi, Mỹ thuật, Thư viện, Báo chí, Bảo tồn bảo
    tàng, nghệ thuật biểu diễn, Điện ảnh, Xuất bản, Văn hóa – Thông tin cơ sở).
    Ngoài ra còn có 49 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ (Trường học, Viện nghiên
    cứu, Nhà hát, Thư viện, Bảo tàng, Triển lãm, Báo, Khu sáng tác, Trung tâm
    hướng dẫn nghiệp vụ, Nhà văn hóa) và một số doanh nghiệp văn hóa.
    Trong quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật
    thể cần chú trọng đến tăng cường phân cấp và phát triển các hình thái tự quản.
    Với cấp Trung ương thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về di sản văn
    hóa là:
    – Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định:
    Quy hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức và hướng
    dẫn thực hiện sau khi được phê duyệt;
    Thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành;

  37. -28-
    Xếp hạng và

    điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt;
    Đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
    (UNESCO) công nhận di sản văn hóa và thiên nhiên tiêu biểu của Việt Nam
    là di sản thế giới;
    Phương án xử lý đối với tài sản là di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm:
    di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia,
    trừ trường hợp luật, pháp lệnh có quy định khác; Cho phép đưa bảo vật quốc
    gia ra nước ngoài;
    – Quyết định theo thẩm quyền:
    Xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I, điều chỉnh khu vực bảo vệ
    đối với di tích quốc gia; giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cho bảo tàng nhà
    nước có chức năng theo quy định của pháp luật;
    Phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc
    gia và di tích quốc gia đặc biệt theo pháp luật; phê duyệt hoặc thỏa thuận việc
    xây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II đối với di tích quốc gia và di tích
    quốc gia đặc biệt;
    Thẩm định quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc
    gia, di tích quốc gia đặc biệt; dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm
    ngoài khu bảo vệ di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt xét thấy có khả
    năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật;
    Cấp phép thăm dò, khai quật khảo cổ; đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài,
    làm bản sao di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia thuộc các bảo tàng quốc gia,
    bảo tàng chuyên ngành; quản lý việc cấp phép cho người Việt Nam định cư ở
    nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa
    phi vật thể ở Việt Nam.
    Hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hội
    truyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích và nhân vật lịch sử.

  38. -29-
    Chủ trì, phối

    hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản
    lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
    Công nhận, trao tặng danh hiệu vinh dự đối với các nghệ nhân có công
    giữ gìn, trình diễn, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể.
     Cấp địa phương
    Chính quyền địa phương được giao trách nhiệm đẩy mạnh sự nghiệp
    văn hóa, bảo vệ tính đa dạng và tính thống nhất trong sự phát triển của văn
    hóa Việt Nam. Cụ thể chính quyền địa phương thực hiện các nội dung quản lý
    sau:
    Tổ chức thực hiện quy chế, giải pháp huy động, quản lý, sử dụng các
    nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tại địa phương sau khi
    được phê duyệt;
    Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ và phục
    hồi di tích thuộc địa phương quản lý sau khi được phê duyệt;
    Tổ chức điều tra, phát hiện, thống kê, phân loại và lập hồ sơ di sản văn
    hóa phi vật thể thuộc địa bàn tỉnh;
    Hướng dẫn thủ tục và cấp giấy phép nghiên cứu, sưu tầm di sản văn
    hóa phi vật thể trên địa bản tỉnh cho tổ chức, cá nhân nước ngoài và người
    Việt Nam định cư ở nước ngoài;
    Tổ chức thực hiện kiểm kê, phân loại, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch
    sử văn hóa và danh lam thắng cảnh thuộc địa bàn tỉnh;
    Thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu vực
    bảo vệ di tích cấp tỉnh có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường của di
    tích;
    Tổ chức việc thu nhận, bảo vệ các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do
    tổ chức, cá nhân giao nộp và thu giữ ở điạ phương theo quy định của pháp
    luật;

  39. -30-
    Đăng ký và

    tổ chức quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong
    phạm vi tỉnh; cấp phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo
    tàng cấp tỉnh và sở hữu tư nhân;
    Quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản
    văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử ở địa
    phương.
    1.2.4. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn
    về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ về di sản văn hóa cồng chiêng
    Tây Nguyên bao gồm đội ngũ các nhà quản lý và đội ngũ công chức, viên
    chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    Củng cố và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có năng lực quản lý và
    có trình độ chuyên môn cao phục vụ công tác quản lý di sản văn hóa phi vật
    thể nói chung, di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng với sự hỗ trợ
    của các cơ quan, các nhà khoa học trong nước và thế giới (kể cả đi tham quan
    học tập ở nước ngoài) là rất cần thiết.
    Cần khẳng định rằng, những người làm công tác quản lý ở cấp cơ sở
    nói chung và những người làm công tác quản lý trực tiếp ở cấp cơ sở nói
    riêng, nếu không hiểu biết sâu về di sản văn hóa phi vật thể cũng như những
    giá trị, đặc trưng và các hình thức sinh hoạt của nó, sẽ gặp nhiều khó khăn
    trong hoạt động.
    Do đó, đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện chuyên môn này cần
    thường xuyên được trang bị những kiến thức cơ bản về quản lý di sản văn hóa
    phi vật thể nói chung và di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng.
    Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được tiến hành với những nội dung cụ

  40. -31-
    thể, thiết thực,

    gắn với đặc điểm của vùng miền cả về điều kiện tự nhiên, kinh
    tế, xã hội và đặc điểm dân cư. Đa dạng các hình thức tổ chức các khóa đào
    tạo, bồi dưỡng với đối tượng cụ thể, thời gian tổ chức và thời lượng thực hiện
    phù hợp trong phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    1.2.5. Hỗ trợ và huy động các nguồn lực để phát triển văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên
    Căn cứ để đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động bảo tồn và phát
    huy di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là cần
    xác định các mô hình hoạt động thuộc sự quản lý của ngành văn hóa.
    Có 3 nhóm mô hình hoạt động là: sự nghiệp, sự nghiệp có thu và tự
    chủ kinh doanh.
    Các nguồn đầu tư cho hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
    phi vật thể bao gồm: nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn từ các dự án
    đầu tư, viện trợ, đóng góp của các tổ chức, cá nhân.
    Bên cạnh các biện pháp nhà nước đầu tư ngân sách cho hoạt động bảo
    tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên, cũng còn hình thành những nguồn “Tài chính phi nhà nước”, nhằm
    đảm bảo cho bảo tồn và phát triển di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên,
    dưới nhiều hình thức “quỹ bảo hộ” khác nhau.
    Cơ chế quản lý đối với các nguồn đầu tư tuân theo nguyên tắc quản lý
    hành chính, cấp nào trực tiếp cấp phát ngân sách thì cấp đó xét duyệt chi tiêu
    theo đúng các quy định hiện hành.
    Đối với ngân sách trung ương, do Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch
    trực tiếp cấp phát và xét duyệt, quyết toán đối với các đơn vị trực thuộc.
    Đối với ngân sách địa phương, do Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch
    trực tiếp cấp phát và xét duyệt quyết toán đối với các đơn vị trực thuộc sở.

  41. -32-
    Đầu tư cho

    hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nói chung và
    di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng đều cần tính toán đến hiệu
    quả. Yêu cầu đặt ra là phải đạt tới mục tiêu quốc gia mà Đảng và Nhà nước đã
    đề ra.
    1.2.6. Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    Phương châm chỉ đạo đối với thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo tồn và
    phát huy di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    là phòng ngừa, ngăn chặn hơn là việc để sự việc xảy ra rồi mới xử lý.
    Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên cần quan tâm theo 4 hướng:
    – Hoàn thiện và bổ sung các văn bản pháp qui (luật, pháp lệnh, nghị
    định, chỉ thị…), đây là điều kiện cần thiết để tiến hành tốt việc thanh tra, kiểm
    tra các hoạt động về di sản văn hóa phi vật thể nói chung, di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên nói riêng.
    – Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức
    chính trị – xã hội như: Hải quan; Công an; Thương mại; Du lịch; Lao động,
    Thương binh và Xã hội; các hội và hiệp hội liên quan đến di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên trong thanh tra, kiểm tra.
    – Kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra của ngành từ Trung
    ương đến cơ sở, bao gồm 3 nội dung: số lượng, chất lượng và trang bị kỹ
    thuật cho công tác kiểm tra vì hiện tại đội ngũ này còn thiếu về số lượng, yếu
    về trình độ và trang bị kỹ thuật lạc hậu.
    – Tổ chức và sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan cung
    ứng dịch vụ, xác định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, gắn kết các
    hoạt động để tạo sự phát triển văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thuận lợi cho việc thanh tra, kiểm tra.

  42. -33-
    Quản lý nhà

    nước về hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi
    vật thể nói chung và di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng trong
    bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay đòi hỏi sử dụng đồng bộ các phương pháp
    kinh tế, giáo dục, hành chính thích hợp.
    1.2.7. Tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về di sản
    văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
    Tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên là một nội dung và phương thức quản lý nhà nước
    có ý nghĩa quan trọng.
    Trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng, cần coi trọng công tác tổng kết và đánh
    giá, thi đua và khen thưởng các tập thể, cá nhân thực hiện tốt hoạt động bảo
    tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên. Cùng với khen thưởng, việc kỷ luật đối với những tổ chức, cá nhân
    có vi phạm liên quan đến các hoạt động quản lý di sản văn hóa phi vật thể, di
    sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cũng là những nội dung và nhiệm vụ
    hết sức cần thiết.
    Việc xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có vi phạm dựa theo những
    quy định trong Điều 15 của Nghị định số 178/2010NĐ-CP về việc xử phạt
    hành chính trong lĩnh vực văn hóa.
    1.3. Sự cần thiết quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    1.3.1. Định hướng hoạt động di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    Việc định hướng hoạt động của di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên là hết sức cần thiết và quan trọng nhằm giữ gìn và phát huy truyền

  43. -34-
    thống tốt đẹp

    của các dân tộc Tây Nguyên nói chung và ở tỉnh Đắk Lắk nói
    riêng.
    Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có chức năng văn hóa, xã hội và
    biểu tượng bởi vì đối với các tộc người Tây Nguyên, cồng chiêng là một vật
    thiêng. Là một vật thiêng nên âm thanh cồng chiêng cũng mang tính thiêng và con
    người đã sử dụng nó như một ngôn ngữ thông qua đó họ “đối thoại” với tổ tiên và
    thần linh. Do đó, chức năng bao trùm của cồng chiêng là chức năng nghi lễ.
    Cồng chiêng còn có chức năng là vật thể hiện cho uy tín và quyền lực.
    Người sở hữu nhiều cồng chiêng không chỉ là người giàu của cải mà hơn thế
    nữa, còn là người có sức mạnh thiêng lớn hơn người khác vì ông bà ta coi các
    thần linh là bạn.
    Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thể hiện đậm đà
    nhất trong cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng. Tín ngưỡng, lễ hội,
    nghệ thuật tạo hình, múa dân gian và ẩm thực dân gian, đều thể hiện, gắn bó
    mật thiết với cồng chiêng.
    Phần lớn các tộc người ở Tây Nguyên đánh chiêng cồng trình diễn
    trong các nghi lễ đều thực hiện xung quanh một trung tâm là biểu tượng
    thiêng của buổi lễ như: cây nêu hay nhà mồ hoặc con trâu hiến sinh. Mỗi nghệ
    nhân chỉ sử dụng 1 chiếc cồng chiêng. Họ đi thành hàng một, đi đầu thường là
    một cái trống, tiếp theo là các chiêng cồng với thứ tự cái có cao độ trầm đi
    trước, cái có cao độ cao lần lượt theo sau, vừa nhún nhảy vừa đánh chiêng vẽ
    nên một đường tròn và tạo thành một trường âm thanh quanh trung tâm
    thiêng.
    Có thể nói, di sản văn hóa cồng chiêng thể hiện tài năng sáng tạo văn
    hóa – nghệ thuật ở đỉnh cao của các tộc người Tây Nguyên. Đó là sáng tạo
    văn hóa rất độc đáo của cư dân các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Cồng chiêng
    và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng các dân tộc ở Tây Nguyên rất đa dạng,

  44. -35-
    nhưng rất thống

    nhất. Đây chính là đặc điểm rất cơ bản của vùng văn hóa Tây
    Nguyên, nhưng cũng là đặc điểm văn hóa Việt Nam.
    Với các dân tộc Tây Nguyên, phương tiện để kết nối cộng đồng cũng
    lại là cồng chiêng. Tây Nguyên có nhiều dân tộc, nhưng các dân tộc luôn hòa
    hợp lẫn nhau trong văn hóa cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa của
    dân tộc mình, không có hiện tượng loại trừ hay đồng hóa văn hóa của nhau
    trong sinh hoạt văn hóa cồng chiêng.
    1.3.2. Điều chỉnh hoạt động di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là tài sản quý giá của cộng
    đồng các dân tộc Việt Nam nói chung và ở Đắk Lắk nói riêng, là cốt lõi của
    bản sắc văn hóa, là cơ sở để sáng tạo những giá trị tinh thần mới và giao lưu
    văn hóa trong cộng đồng các dân tộc.
    Việc điều chỉnh nhằm hướng các hoạt động của di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên đi vào chiều sâu, tránh được tình trạng phân tán không
    hiệu quả. Trong thời gian qua hoạt động di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên nói chung và ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng chưa được quy hoạch phát
    triển theo định hướng cụ thể.
    Để đưa hoạt động này vào chiều sâu, các cơ quan cấp trên cần có
    chính sách giao trách nhiệm cho các cơ quan cấp dưới, khuyến khích thành
    lập các công ty, tập đoàn lớn, các cơ quan trọng điểm để thực hiện duy trì
    các hoạt động, chú trọng khơi dậy truyền thống của buôn, làng kết hợp với
    xu hướng theo tổ hợp, quần thể để góp phần duy trì, bảo tồn và kết hợp với
    du lịch. Với thế mạnh của di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hết sức
    đặc sắc thì việc điều chỉnh các hoạt động di sản văn hóa cồng chiêng không
    đơn thuần là chỉ là việc bảo tồn và phát huy mà còn kết hợp làm lợi cho việc
    phát triển kinh tế.

  45. -36-
    1.3.3. Hỗ trợ,

    tạo điều kiện cho di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên phát huy giá trị
    Việc hỗ trợ, tạo điều kiện cho di sản văn hóa cồng chiêng phát huy
    được giá trị trên hết là hệ thống quản lý, chính sách và điều hành. Từ việc xây
    dựng và ban hành các chính sách về di sản văn hóa cồng chiêng nói riêng từ
    trung ương đến địa phương để nghiên cứu thành lập các hội đồng chuyên môn
    đảm bảo trình độ chuyên môn cao, am hiểu về chính sách qua đó thẩm định
    các đề án, dự án đạt hiệu quả cao.
    Bên cạnh đó, nghiên cứu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và cơ
    cấu tổ chức của các hội văn học nghệ thuật từ trung ương đến địa phương theo
    phương thức xã hội hóa, phi hành chính hóa. Cũng cần thêm việc xây dựng cơ chế
    phản biện, phản hồi trong việc xây dựng và thực hiện chính sách về hỗ trợ, tạo
    điều kiện cho di sản văn hóa cồng chiêng phát huy được giá trị.
    1.3.4. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên
    Cồng chiêng có một vị thế đặc biệt nổi bật trong hệ nhạc khí cổ truyền
    của nước ta, vì vậy một đòi hỏi cấp thiết là cần có sự quản lý của nhà nước để
    di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phát huy được giá trị của mình. Vị
    thế ấy không bắt nguồn từ chất liệu chế tạo ra nó hoặc từ giá trị vật chất của
    loại nhạc khí này cũng không đơn thuần bắt nguồn từ việc sử dụng rộng rãi
    cồng chiêng trong cộng đồng cư dân ở việt Nam mà bắt nguồn từ sự tổng hòa
    các giá trị văn hóa đa dạng bao chứa trong nó. Trên thực tế hiếm có nhạc khí
    nào bao hàm nhiều giá trị như cồng chiêng.
    Di sản văn hóa cồng chiêng nói chung, cồng chiêng Tây Nguyên nói
    riêng bao hàm các giá trị:
    Giá trị biểu thị đặc trưng bản sắc văn hóa vùng: ở tầm vĩ mô, cồng
    chiêng là nhạc khí quan trọng biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa âm nhạc

  46. -37-
    của khu vực

    Đông Nam Á. Ở tầm hẹp hơn công chiêng là đặc trưng nổi bật
    nhất biểu thị bản sắc văn hóa âm nhạc của vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.
    Cách dùng cồng chiêng cũng là một trong những đặc trưng biểu thị nét khác
    biệt giữa vùng văn hóa âm nhạc phía Bắc Việt Nam (ưu thế thuộc về lối dùng
    đơn chiếc) và vùng văn hóa âm nhạc phía Nam Việt Nam (lối dùng theo bộ
    chiếm ưu thế).
    Giá trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người: thậm
    chí cả đặc trưng văn hóa của những nhóm địa phương trong cùng một tộc thể
    hiện qua cách dùng, cách ứng xử với cồng chiêng, tên gọi, đặc trưng âm nhạc.
    Giá trị phản ánh đa chiều có thể tìm thấy trong văn hóa cồng chiêng
    rất nhiều khía cạnh liên quan tới cộng đồng sử dụng chúng trên một số khía
    cạnh: vũ trụ quan; chế độ xã hội; đặc điểm của trình độ phát triển xã hội; mối
    quan hệ xã hội; quan điểm thẩm mỹ; phong tục tập quán; quan niệm tâm linh,
    tín ngưỡng; khă năng thẩm âm; tri thức âm nhạc; Trình độ phát triển âm nhạc;
    trình độ chế tác hợp kim đồng; mối quan hệ giao lưu và ảnh hưởng văn hóa
    âm nhạc giữa các tộc người.
    Giá trị nghệ thuật, biểu hiện ở khả năng đảm nhiệm mọi chức năng
    âm nhạc (dùng để đệm cho múa, để hòa tấu); khả năng thực hiện các thể nhạc
    khác nhau theo kiểu tư duy đơn điệu, chủ điệu, các dạng phức điệu và dạng
    pha trộn; nghệ thuật diễn tấu bào gồm: các kỹ thuật tạo âm; nghệ thuật phối
    hợp tập thể; khả năng thể hiện những hình tượng và đặc tính âm nhạc đa
    dạng; những nguyên tắc cấu trúc đã định hình chặt chẽ; là một dạng nguyên
    mẫu âm nhạc.
    Giá trị sử dụng đa dạng: có thể dùng cồng chiêng vào nhiều mục đích
    với các chức năng như công cụ hỗ trợ săn bắn; phương tiện thông tin, truyền
    lệnh; phương tiện giao cảm với thế giới siêu nhiên; phương tiện tạo sự cộng
    cảm và cố kết cộng đồng; đồ chơi trẻ em; nhạc khí. Riêng với tư cách là một

  47. -38-
    nhạc khí công

    chiêng là nhạc khí duy nhất gắn bó với con người từ thuở ấu thơ
    cho tới khi vĩnh viễn chia tay với thân tộc để chuyển hẳn sang thế giới “bên
    kia” và có mặt trong tất cả những sự kiện trọng đại của một đời người cũng như
    của cộng đồng.
    Di sản văn hóa cồng chiêng nói chung, cồng chiêng Tây Nguyên nói
    riêng còn có các giá trị vật chất (là loại nhạc khí quý có giá trị cao tính bằng
    vật chất); giá trị biểu thị sự giàu sang và uy quyền; giá trị tinh thần là của gia
    bảo là nhạc cụ thiêng; giá trị cố kết cộng đồng có tính tập thể và khả năng tập
    hợp và sức hút mạnh đối với các thành viên cộng đồng trong những sinh hoạt
    và hoạt động tập thể, có tác dụng rèn luyện ý thức tổ chức, kỉ luật và năng lực
    phối hợp tập thể cao chặt chẽ và chính xác; giá trị lịch sử là bằng chứng của
    một truyền thống có lịch sử lâu đời.
    Đặc biệt sự đa dạng của di sản văn hóa cồng chiêng Tây nguyên còn
    tiềm ẩn những điểm tựa cho việc lần tìm nguồn gốc của loại nhạc khí này cũng
    như sự phân chia những vùng văn hóa cồng chiêng có đặc trưng khác nhau.
    Ngoài ra còn có thể những giá trị khác mà chúng ta chưa phát hiện của loại
    nhạc khí đặc biệt này. Những điều trên cho thấy không phải ngẫu nhiên mà
    trong tất cả các nhạc khí ở Việt Nam, chỉ riêng cồng chiêng mới tạo nên một
    loại hình văn hóa riêng được gọi là di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

  48. -39-
    Tiểu kết chương

    1
    Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có vai
    trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế,
    văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước. Thực chất của công tác quản lý văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên là quá trình tác động, điều chỉnh bằng quyền lực
    nhà nước thông qua pháp luật trên tất cả các hoạt động trong đời sống xã hội
    nhằm phát triển, đáp ứng nhu cầu văn hóa nói chung của nhân dân.
    Đắk Lắk là một tỉnh miền núi của vùng Tây Nguyên. Tỉnh có địa hình
    hành chính ổn định, là trung tâm của tam giác phát triển 3 nước Việt Nam,
    Lào và Campuchia với nhiều dân tộc anh em sinh sống, đây là điều kiện thuận
    lợi những cũng là một khó khăn và thử thách đối với tỉnh nhà.
    Quản lý nhà nước về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có những
    thuận lợi và khó khăn nhất định. Trong xu thế hội nhập sâu toàn cầu, sự xâm
    nhập của văn hóa độc hại, sự lai căng, lối sống thực dụng và những tiêu cực
    khác của nền kinh tế thị trường đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những
    giá trị văn hóa truyền thống trong đó có di sản văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên. Các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng Tây
    Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp trong mọi mặt
    của đời sống xã hội, cần phải có sự tăng cường công tác quản lý về di sản văn
    hóa cồng chiêng Tây Nguyên của cả hệ thống chính trị trong việc vận hành
    thể chế cũng như các thiết chế văn hóa nhằm nâng cao hiệu lực, chất lượng
    quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh.
    Kết quả nghiên cứu về phương diện lý luận và thực tiễn của quản lý
    nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở chương 1 là cơ sở để
    luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa
    cồng chiêng Tây Nguyên của tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua, làm cơ sở cho
    việc xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng của công tác quản lý di sản
    văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của tỉnh trong thời gian tới.

  49. -40-
    CHƯƠNG 2
    THỰC TRẠNG

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA
    CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
    2.1. Khái quát về điều kiện phát triển và di sản văn hóa cồng
    chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
    2.1.1. Khái quát về điều kiện phát triển của tỉnh Đắk Lắk
     Điều kiện tự nhiên
    Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, Phía Đông
    giáp Phú Yên và Khánh Hòa, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông, phía
    Tây giáp Campuchia đường biên giới dài 70 km, phía Bắc giáp tỉnh Gia
    Lai.
    Tỉnh Đắk Lắk có địa hình hướng thấp dần từ Đông nam sang Tây
    bắc.
    Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng, vùng phía Tây Bắc
    khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam
    có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa
    và mùa khô.
    Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn với nhiều chủng loại gỗ
    quý, nhiều loại cây đặc sản có giá trị kinh tế và giá trị khoa học. Khoáng sản
    với trữ lượng khác nhau.
    Hệ thống sông suối khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy
    nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu
    như không có nước trong mùa khô.
    Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2
    , trong đó chủ yếu là
    nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất
    gley, đất đen. Các nhóm đất được hình thành từ đá bazan có độ phì khá