ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA VĂN HOÁ LÀNG XÃ Trong SỰ NghiệP CÔNG NghiệP HOÁ Ở

KHÁNH CHI:

ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA VĂN HOÁ LÀNG XÃ TRONG SỰ NGHIỆP

CÔNG NGHIỆP HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Làng xã Việt Nam đã có từ rất truyền kiếp. Nó như là những “ tế bào sống ”, như những “ cấu kiện đúc sẵn ” tạo nên nông thôn Việt Nam xưa. Cho đến nay, trong tâm hồn mỗi người Việt, vẫn dành những tình cảm thân thương về làng quê xưa. Từ buổi sơ khai của lịch sử dân tộc, mỗi người dân đều là một tác nhân tạo nên hội đồng làng xã. Qua ngàn đời, với bao thăng trầm, dịch chuyển, bao thử thách khó khăn, làng xã Việt với những nét văn hoá độc lạ, rực rỡ được bảo tồn, gìn giữ và thừa kế, phát huy đã trở thành truyền thống đặc trưng của văn hoá Việt Nam. Trước những tác động ảnh hưởng của đời sống văn minh, đặc biệt quan trọng là nền công nghiệp đang tăng trưởng ở Việt Nam, văn hoá làng xã đang đối lập với nhiều thử thách. Không ít những giá trị từng được xem là tiêu biểu vượt trội của hội đồng làng xã nay lại bị xem như một trở ngại trên con đường tăng trưởng quốc gia. Sự gia nhập những yếu tố văn hoá ngoại lai cũng mang lại nhiều ảnh hưởng tác động xấu đi, làm phai nhạt nét đặc trưng của văn hoá làng .Hai đặc trưng cơ bản nhất của văn hoá làng xã Việt Nam là : tính tự trị và tính hội đồng. Đây là hai đặc trưng bao trùm nhất, quan trọng nhất của làng xã ; chúng sống sót song song như hai mặt của một yếu tố .

ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA VĂN HOÁ LÀNG XÃ

ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA VĂN HOÁ LÀNG XÃ

1. TÍNH CỘNG ĐỒNG:
– Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi
người đều hưởng tới những người khác – nó là đặc trưng dương tính, hướng
ngoại. Việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau
tạo nên tính cộng đồng làng xã.

a) Biểu hiện tích cực của tính cộng đồng:
– Tinh thần đoàn kết tương trợ:

  • Tính cộng đồng trong phạm vi làng xã là cơ sở tạo nên tính đồng nhất trong hàng
    loạt lĩnh vực như đồng tộc, đồng niên, đồng hương, đồng nghiệp và tất yếu dẫn đến
    sự đồng nhất trong phạm vi quốc gia: Đồng bào (sinh ra từ một bọc trứng). Tính
    đồng nhất (cùng hội, cùng cảnh ngộ) đã giúp cho người Việt có tính đoàn kết, gắn
    bó rất cao, luôn yêu thương, giúp đỡ nhau, coi người trong cộng đồng như anh em
    trong nhà: “chị ngã em nâng”; “lá lành đùm lá rách ”… sự đồng nhất cũng chính

là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ, bình đẳng thể hiện trong những nguyên tắc tổ chức triển khai nông thôn .

  • Tính cộng đồng sinh ra quan niệm “ bán anh em xa, mua láng giềng gần” nên
    người Việt có truyền thống đoàn kết, gắn bó yêu thương xóm làng. Tình yêu xóm
    làng, quê hương được đẩy lên cao là tình yêu quốc gia, đất nước.
  • Tinh thần tập thể, hoà đồng:
  • Vì đề cao sự đồng nhất nên người Việt có tinh thần tập thể cao và rất dễ hoà đồng
    vào cuộc sống chung, dù là đời sống nông nghiệp hay công nghiệp.

 Tính cộng đồng sinh ra từ làng xã cổ truyền lấy sản xuất nông nghiệp làm
trọng, song với sự tồn tại lâu đời, nó đã ngấm sâu vào máu của nhân dân
Việt Nam và tạo nên những đức tính, biểu hiện tích cực phù hợp với đời
sống xã hội hiện nay, đặc biệt là trong đời sống công nghiệp hoá. Con ngừoi
không chỉ gắn bó với nhau bằng các quan hệ máu mủ mà còn gắn bó cả bằng
những quan hệ sản xuất. Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất này ở Việt Nam
khác so với phương Tây. Ở phương Tây, các gia đình sống gần nhau cũng có
quan hệ với nhau, nhưng họ sống theo kiểu trang trại, quan hệ lỏng lẻo, phần
nhiều mang tính chất xã giao. Nhà triết học người Đức K từng so sánh
một cách dí dỏm nông thôn phương Tây với “cái bao tải khoai tây” mà mỗi
gia đình trong đó là 1 củ khoai tây, các gia đình không liên kết chặt chẽ với
nhau.

  • Nếp sống dân chủ, bình đẳng:
  • Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú còn dựa trên quan hệ hàng ngang. Nó
    là nguồn gốc của tính dân chủ, bởi lẽ muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài
    thì phải tôn trọng, bình đẳng với nhau. Đó là hình thức dân chủ sơ khai, dân chủ
    làng mạc. Trong lịch sử, nền dân chủ nông nghiệp này có trước nền dân chủ tư sản
    của phương Tây. Cho tới ngày nay nếp sống tốt đẹp đó vẫn tiếp tục được bảo tồn
    và phát huy.
  • Làng xã không còn vận hành theo những nguyên tắc mặc định và cứng nhắc:
  • Việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng chuyển lao động nông nghiệp,
    nông thôn sang lao động công nghiệp, dịch vụ ở khu công nghiệp, khu tiểu thủ

người được rèn luyện ý thức cả nhân ngay từ khi còn bé, luôn tôn vinh chủ nghĩa cá thể .

  • Thói dựa dẫm, ỷ lại tập thể:
  • Sự đồng nhất còn dẫn đến thói hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể: “Nước chảy thì
    bèo trôi”. Tệ hại hơn nữa là tình trạng “cha chung không ai khóc” thờ ơ, vô
    cảm với những công việc chung và luôn nghĩ đó là việc của của người khác
    không liên quan đến mình… Cùng với thói dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởng cầu
    an ,“an phận thủ thường” và cả nể, làm gì cũng sợ “rút dây động rừng” nên
    mâu thuẫn gì thường chủ trương hoà hoãn, “đóng cửa bảo nhau” và thậm chí là
    “nhắm mắt cho qua”…
  • Thói cao bằng, đố kị:
  • Một nhược điểm lớn nữa đó là thói cào bằng, đố kị, không muốn cho ai hơn
    mình (vì đồng nhất nên tất cả phải giống nhau): “Chết một đống còn hơn sống
    một người” những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội như người khuyết
    tật, tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn… thường sẽ được nhận nhiều hỗ trợ
    để đảm bảo tính bình đẳng, dân chủ song nhiều thành phần lại ganh ghét, tị
    nạnh, ích kỷ không người khác được hưởng quyền lợi.
    Không phát huy được sáng kiến.
  • Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng này khiến cho ở Việt Nam,
    khái niệm “giá trị” trở nên hết sức tương đối. Nó khẳng định đặc điểm tính
    chủ quan của lối tư duy nông nghiệp: Cái tốt, nhưng mà tốt riêng rẽ thì trở
    thành xấu “khôn độc không bằng ngốc đàn” (dẫn đến nhiều người tài, người
    tốt bị chà đạp, hắt hủi, ghẻ lạnh); ngược lại, cái xấu, nhưng là xấu tập thể thì
    lại trở nên bình thường: “Toét mắt là tại hướng đình, Có làng cùng toét,
    riêng mình đâu” (tạo điều kiện cho cái xấu tiếp tục hoành hành, bành
    trướng).

2. Tính tự trị:

  • Sản phẩm của tính cộng đồng là một tập thể làng xã mang tính tự trị: làng
    nào biết làng nấy, các làng tồn tại biệt lậo với nhau và phần nào đọc lâp vớị
    triều đình phong kiến. Mỗi làng là một “tiểu vương quốc” khép kín với pháp

luật riêng ( hương ước ) và “ tiểu triều đình ” riêng ( trong đó hội đồng kì mục là cơ quan lập pháp, lí dịch là cơ quan hành pháp, nhiều làng tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất là “ tứ trụ ” ). Sự khác biệt đó tạo nên truyền thống cuội nguồn “ phép vua thua lệ làng ”. Đây là đặc trưng âm tính – hướng nội .a ) Biểu hiện tích cực của tính tự trị của văn hoá làng xã :

  • Tính tự lập:
  • Tính tự trị chú trọng sự khác biệt. Khởi đầu là sự khác biệt của cộng đồng này
    với cộng đồng khác. Sự khác biệt là cơ sở của tính tự trị, tạo nên tinh thần tự lập
    cộng đồng
  • Nếp sống tự cấp, tự túc, tính cần cù:
  • Vì phải tự lo liệu nên người Việt Nam có truyền thống cần cù, đàu tắt mặt tối.
    Nó tạo nên nếp sống tự cấp, tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu của làng;
    mõi nhà có vườn rau, ao cá, chuồng gà…- tự đảm bảo nhu cầu lương thực, có
    bụi tre, rặng xoan, gốc mít – tự đảm bảo nhu cầu về nơi ở
  • Tính tự do ngôn luận, nhân quyền, dân chủ:
  • Hương ước vốn là do người dân tự thảo luận, đề ra và cùng với chính quyền
    thông qua để thực hành. Hương ước là quy định tự nguyện của người dân,
    không phải do ai áp đặt -> bảo về quyền lợi nhân dân

b ) Biểu hiện xấu đi :

  • Óc tư hữu, ích kỉ:
  • Chính do nhấn mạnh sự khác biệt mà ngừoi Việt dần hình thành thói ích kỉ,
    đầu óc tư hữu “thân ai nấy lo”, “ai có bò người nấy giữ”… Óc tư hữu, ích kỷ
    nảy sinh từ tính tự trị của làng xã Việt và luôn bị chính người Việt phê phán:
    “của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bà nó ăn”… -> không phát huy

Source: https://mix166.vn
Category: Văn Hóa